Mấy nét về hát Xẩm – Phần 7

Mấy nét về hát Xẩm – Phần 7

Nghệ nhân xẩm còn vận dụng những Hát ví, hát Trống quân, Sa mạc, Bồng mạc… tuỳ lúc, tuỳ đối tượng nghe, cốt phô bày tài nghệ cá nhân mà chưa phải do nội dung lời hát yêu cầu. Xẩm Hà Nội và xẩm Hải Phòng còn ca cả Hành vân, Lưu thuỷ, Phú Lục… và đưa khéo vào đây đó đôi đoạn nhạc “thòng” để lấy hơi, cho dẫu họ có “bị” nghệ nhân chuyên ca Huế chê bai…

Mấy nét về hát Xẩm

Đương nhiên, không phải vừa ra đời, xẩm đã có ngay số điệu hát trên. Ban đầu có thể mới xuất hiện điệu Xẩm chợ, rồi Hò bốn mùa mang nặng tính kể vè đơn điệu. Và ngay mấy điệu ấy cũng phải qua nhiều nghệ nhân xẩm hát đi hát lại, nơi này nơi kia, mới ổn định nét nhạc riêng, không lẫn với Ví, Đúm… Dần dà đo tính ham thích sáng tạo thúc đẩy, từ yêu cầu thể hiện nội dung tốt hơn, do sự mong muốn được nghe cái mới của khách đòi nghệ nhân phác thảo và trau tria gọt rũa mà định hình những Chênh bong, Riềm huê, Ba bực, Phồn huê. Khi chưa tìm được nét nhạc mới thì đành “mượn” bên các loại hình bạn mà có hát Ai, hát Thập ân. Những Ví, Trống quân, Sa mạc,… cả Hành vân, Lưu Thuỷ,… vì do chúng quá phổ biến trong đồng bào, do chúng thuộc loại nhạc thính phòng đã có phong cách ổn định, nên xẩm học lại gần y nguyên, chỉ dám “pha phách” chút ít, miễn sao không bị những nghệ nhân khác chê là “dốt”. Việc Ca trù du nhập một điệu của xẩm vào sinh hoạt của mình càng làm nghệ nhân xẩm tự hào về giá trị nghệ thuật bộ môn họ đang theo đuổi.

Ở mấy truyện xẩm dài hơi, nghệ nhân tạo được mấy cách nói lối làm cầu nối giữa điệu nọ với điệu kia, làm thay đổi hơi nhạc và sắc thái mà gia tăng sức hấp dẫn cho tiết mục, như “Kể thơ tươi màu”, “Kể thơ oán màu”… có tác dụng cùng dạng với những “sử xuân”, “sử ràu” bên chèo. Sự ra đời số điệu hát và số nói lối ở nhiều sắc thái chứng tỏ một bước lớn lên của hát xẩm trên đường chuyển hoá từ một loại ca nhạc tiến tới một kịch chủng khi bắt vào thể hiện tích dài hơi.

Về nhạc cụ, trước nay nghệ nhân vẫn dùng cây đàn một dây, ban đầu là đàn song (còn gọi là đàn xẩm), sau là đàn bầu; nhiều nghệ nhân dùng nhị cò ke. Nghệ nhân xẩm vừa hát vừa đàn, vừa làm “điệu bộ” đầu, mặt, mắt thể hiện theo. Vợ hoặc con xẩm đi theo thì cùng manh chiếu nát, để chiếc thau bẹp, còn mang khẩu trống mảnh, đôi sênh cặp kè, nhiều khi hát phụ họa theo.

Đàn song, đàn bầu hoặc nhị là nhạc cụ chủ yếu của xẩm. Đàn này thể hiện được cả những bài vui vẻ dí dỏm lẫn thương mong ai oán, cả êm nhẹ, tình tứ. Tiếng đàn ấm ngọt, vang xa, bám theo lời hát, điểm vào những âm chính, hoặc kéo theo giai điệu ở các quãng xuyên tâm lưu không, quả có sức hút và xoáy sâu vào tâm thức người nghe.

Giữ nhịp cho tiếng hát và tiếng đàn là tiếng sênh cặp kè tiếng trống mảnh dòn vang, điểm gọn vào số nhịp nội nhịp ngoại, làm tăng tính kịch cho câu ca, cũng làm vui thêm đám hát. Cặp kè chỉ làm nhiệm vụ đệm nhịp, giữ nhịp, thi thoảng mới đánh cặp díp dứt câu, dứt trổ, chứ không chơi dồn dập như trong chèo khi đổ khổ hoặc thi nhịp. Tiếng bầu trong vắt (kim) đi với tiếng sênh chắc đanh (mộc) đệm cho tiếng hát thường thuộc giọng thổ (nam hát) nghe hài hoà ăn ý khá ngọt tai.

Nhiều nghệ nhân dùng nhị cò ke 2 dây tơ nghe cũng trầm và ấm. Nhị cũng dùng cho cả loại bài vui và bài buồn, tuỳ nội dung mà khi kéo gân bong, lúc xuống gân chìm. Nữ nghệ nhân hay dùng nhị, không phải vị dễ kéo, mà do yêu cầu hài hoà của nghệ thuật: nữ thường dùng giọng kim, đi với nhị tương đương giọng thổ, chen vào là tiếng cặp kè dứt gọn, mộc.

Trống mảnh nghe cũng ấm gọn, tuy không vang xa, vì chỉ có một mặt, dễ mang, dễ làm, thường do vợ (con) xẩm điểm thêm vào những âm chính nghe rôm rả thích tai. Có nghệ nhân dùng thay bằng trống cơm trữ tình ấm cúng hơn, song cồng kềnh khó mang khi hành nghề, chỉ gặp khi tập hợp nhiều tốp vào hát đám.

Thật vậy, ở một hội làng chỉ nên gộp 2 tốp thành đám là vừa phải. Đám sẽ có từ 4 đến 6 người, với dàn nhạc gồm bầu, nhị, trống mảnh, cặp sênh, đủ sức hát rôm rả: tiếng nhị khàn ấm như ôm lấy tiếng bầu thánh thót rõ ra trống mái hoà hợp. Việc hạn chế cặp sênh và trống không cho đánh dồn là để nâng đỡ tiếng hát đồng thanh đầy nhiệt tình của nghệ nhân, báo trước cho khách nghe những ngón đàn tài hoa phô diễn trong những quãng xuyên tâm, lưu không, là rất phải. Bởi nếu để sênh và trống đánh đổ hồi như bên nhạc chèo, tiếng hát và tiếng đàn tất bị át do xẩm vừa hát vừa đàn đồng thời. Đấy là một cách phối hợp thanh âm và sắc thái của đám hát xẩm.

Vạn bất đắc dĩ mới phải gộp 3 tốp xẩm làm một, thì dàn nhạc sẽ có thêm cây sáo mạng và đôi phách. Tiếng sáo rè rè trầm ấm tả được những cảnh bình dị trữ tình, đồng tấu với bàu nhị có làm tăng âm lượng giọng thổ. Tiếng phách phụ hoạ thêm tuy cũng gọn những không ấm và chắc bằng sênh, dùng vào những lúc dạo khách, đổ khổ. Có điều tốp ba ít cũng tới 6 người, sẽ khó kiếm đủ ăn.

Vào dịp giỗ Tổ, dàn nhạc xẩm được tăng cường trống cái, trống ban, trống cơm và thêm số lượng cây đàn bầu, nhị, sáo, song chỉ tấu theo giai điệu, với số ngón tấu ngẫu hứng tuỳ tài mỗi cá nhân. Không thấy xẩm sử dụng đàn tam, đàn nguyệt, đàn tranh. Có lẽ mấy cây này công kềnh, lắm phím, không thích hợp với nội dung và nghệ thuật hát xẩm, khó sử dụng đối với những người mù loà?

Sau này, ở một số thành thị phía Nam, khi du nhập loại bài “mới” bên ngoài, nghệ nhân đã dùng đàn ghi ta 5 dây và khoét trũng lòng máng khoảng giữa các phím để “nhấn nhá hoá” cây nhạc định âm bình quân phương Tây này, do nhạc công tài tử cải lương khai mở trước. Xẩm phía Bắc không dùng ghita lõm phím, do khổ đàn quá to, dây quá nhiều, mặt đàn dễ nứt vỡ, tập lâu công mà hiệu quả cũng không hơn mấy cây nhị, bầu.

 

Tác giả: Trần Việt Ngữ

Phần 1 | Phần 2 | Phần 3 | Phần 4 | Phần 5 | Phần 6 | Phần 7 | Phần 8

Nếu bạn là người yêu văn hóa dân gian đặc biệt là nghệ thuật hát Xẩm, hãy Liên hệ để tham gia CLB Nghệ thuật hát Xẩm Hà Nội hoặc tham gia nhóm cộng đồng của chúng tôi.