Mấy nét về hát Xẩm – Phần 8
Về cung cách cấu tạo giai điệu xẩm dựa theo thanh điệu ngữ điệu lời văn và tiết nhịp thể thơ trên cơ sở ý tình diễn biến của vấn đề đang khai thác thể hiện. Nhớ là tiếng Việt có tới 6 dấu, mà mỗi từ mang dấu khác nhau sẽ có nghĩa khác nhau. Lại số từ có âm khép, hơi khép hoặc âm mở, hơi mở cũng tạo thêm nhiều âm thanh mới. Từ Việt thường ở dạng đơn âm, số ít đa âm, mỗi âm đều có nghĩa, buộc phải phát ngôn vừa phải, gẫy gọn, rõ ràng thì nghe mới hiểu. Cho nên, tiếng Việt yêu cầu phát âm từ 2 môi và giữ hơi trong khoang vòm miệng để tiếng nói phát ra được thanh thoát, dứt khoát, vang ấm, chân thật.

Do đó, cũng như các loại ca nhạc và sân khấu cổ truyền, hát xẩm đòi phải tôn trọng những đặc điểm của tiếng nói khi cấu trúc giai điệu, làn điệu cũng như khi nói lối. Người xưa không hề bắt lời theo nhạc để bỏ dấu, mà ngược lại, phải từ dấu và giọng nói bản địa mà tạo dựng giai điệu, đặc biệt chú ý số từ mang những dấu hỏi, ngã, nặng. Từ đấy nẩy sinh nguyên tắc buộc nghệ nhân phải hát sao cho tròn vành rõ chữ. Nghề xẩm thì yêu cầu đàn ngọt, hát chín. Đàn ngọt là phải diễn tấu thuần thục tinh tế, nẩy trúng trọng âm, giữ cho liên tục dòng thanh âm mà xẩm đang phố diễn, bồi đắp nâng giấc cho lời hát thêm đầy đặn vang ấm. Ở các đoạn xuyên tâm lưu không phải tấu nhạc sao cho liền hơi, liền ý, gây cảm giác vừa như tạm khép một ý tình, vừa như gợi mở ở khách nghe sự chờ đón một tứ mới sắp tới. Tiếng hát cũng phải nghe rõ từng lời, vừa ngọt mà cũng vừa thanh, vừa trong, vừa ấm, lại vang ngân nhưng phải đậm tình.
Cũng gần giống bên chèo, đa số bài xẩm viết theo thể thơ sáu tám và thường đảo 4 từ của câu sáu rồi lặp lại cả câu làm đà mà tạo dựng giai điệu. Như điệu Riềm huê sau câu nhạc dạo là bắt vào:
Xanh ngắt tận trời,
Cái đám mây xanh, xanh ngắt tận trời…
Các điệu Ba bực, Hát Ai, Phồn huê cũng đảo như vậy, giống in cấu trúc của những Văn xô, hát Sắp, Sa lệch, Bình thảo, Ru kệ… bên chèo. Cũng lặp lại 4 từ theo cách trên, nhưng do bài hát dùng loại sáu tám dôi chữ, thì giai điệu lại có hình thái khác, như điệu Thập ân chẳng hạn
Con bú con ăn,
Mẹ chăm cho đêm ngày con bú con ăn,
Đêm nằm quần áo chiếu chăn mẹ ướt nhiều bé…
Xẩm hay dùng thể sáu/tám dôi chữ do yêu cầu thể hiện của nội dung một phần, nhưng một phần còn do tính co dãn phóng túng của loại hát nói kể chuyện chi phối. Nhiều bài dẫu đã tước bỏ các tiếng đệm, đưa hơi, mà câu thơ vẫn mang số từ quá hạn định, trong khi vẫn chân, vần lưng vẫn bảo đảm nghiêm chỉnh. Phải chăng đây là những bài nằm trong quá trình thành hình thể sáu/tám? Cũng có thể do đặc điểm của loại hát nói và sự sáng tạo phóng khoáng của nghệ nhân xẩm. Đừng quên, trong không ít bài, những chữ dôi đều có nghĩa, không thể lược bỏ trong khi có bài, chữ dôi chỉ để bắc cầu cho thuận miệng hoặc giải thích cho câu và thêm sáng nghĩa (giống những lời hường kẻ bên Tuồng).
Nhiều bài xẩm chẳng kể hát theo điệu Chênh bong hay Riềm huê, hát Ai dùng cả thể thơ bẩy-bẩy sáu tám rất linh hoạt, làm câu nhạc có dài ra hay ngắn lại đôi chút, song âm điệu và sắc thái vẫn lộ rõ từng loại. Điều này chứng tỏ tài năng bẻ làn nắn điệu (thuật ngữ bên chèo) của nghệ nhân xẩm, cũng thể hiện đặc điểm co dãn của dòng hát nói kể chuyện.
Lời ca của những bài xẩm chịu ảnh hưởng sâu sắc và quan hệ mật thiết với tục ngữ, dân dao, dân ca, dân nhạc vùng châu thổ sông Hồng, đúng ra vùng trung châu và đồng bằng phía Bắc, nên mang hầu hết đặc điểm của văn hoá dân gian, khi vận dụng ngôn ngữ quần chúng đầy sáng tạo, kết hợp khôn khéo tiếng hát với tiếng nhạc cùng với số động tác tuy đơn giản nhưng thuần phác được thể hiện hết lòng của nghệ nhân. Những bài xẩm được hoàn thiện dần trên đường xẩm hành nghề, do sự đóng góp, trau chuốt của lớp lớp nghệ nhân truyền đời. Nhằm thoả mãn tối đa yêu cầu của thính quan, xẩm phải sưu tầm học hỏi để có thật nhiều vốn rèn luyện ngón đàn, tôi luyện tiếng hát để gia tăng sức hấp dẫn. Lại tùy đổi tượng mà biến hoá sao cho đáp ứng nổi thị hiếu số đông. Khách xẩm thường biết rõ ý tình câu đang hát, nội dung truyện đang kể, nên bộc lộ thái độ lập tức, hoặc xuýt xoa hay thít lên tỏ rõ tán thưởng; hoặc im lặng lạnh nhạt rồi tiếp đó chê ngay ra miệng. Nhìn khía cạnh ấy, thấy khách nghe dường như đã “chỉ đạo” xẩm đàn hát, tỏ thái độ và góp ý ngay với từng bài, từng truyện vừa trình diễn. Do đó, ngay số bài có tên tác giả đã xuất bản hoặc do những người ca xẩm đưa đến, nghệ nhân cũng dựa theo sở thích số đông ở đấy mà thay câu đổi ý nhiều ít, cốt thu hái được sự đồng tình tối đa.
Những bài xẩm, truyện xẩm thường được truyền lan từ nghệ nhân này sang nghệ nhân khác, từ vùng này sang vùng khác, từ thế hệ trước sang thế hệ sau, lại luôn được khách nghe bổ sung uốn nắn, nên ngày mỗi thiện cả về nội dung và hình thức mà có khả năng tồn tại lâu dài. Và nghệ nhân thì càng “bị” thúc đẩy mà bộc lộ hết khả năng sáng tạo.
Chỉ qua số bài số truyện thu nhập được, đã thấy quá trình đi lên của hát xẩm: từ bài hát nói trọn một ý tình, tới những bài gồm hai, ba ý hát lồng vào một điệu, đến số bài kể truyện sơ lược về một cá nhân cũng chỉ vận dụng một điệu; từ số bài nói đến những tình cảm phức tạp, éo le buộc nghệ nhân phải “sáng tạo” điệu mới phù hợp mà dần hình thành cả điệu hát riêng, đến khi kể lại một truyện dài đã biết dùng tốt số vốn đó vào những tình huống tương hợp, lại đặt thêm mấy kiểu nói lối vừa để dẫn truyện tốt hơn, vừa làm cầu bắc giữa các điệu khi chuyển từ tình tiết này sang tình tiết khác.
Chúng tôi cho rằng, “Bà Ba cai Vàng” và “Đồng tiền Vạn Lịch” là 2 truyện tiêu biểu của xẩm về mặt phát triển nghệ thuật. Có điều, do hạn chế của bản thân nghệ nhân xẩm, đây mới ở dạng truyện kể bằng đàn hát mang tính sân khấu kịch hát phôi thai.
Tác giả: Trần Việt Ngữ
Phần 1 | Phần 2 | Phần 3 | Phần 4 | Phần 5 | Phần 6 | Phần 7 | Phần 8
Nếu bạn là người yêu văn hóa dân gian đặc biệt là nghệ thuật hát Xẩm, hãy Liên hệ để tham gia CLB Nghệ thuật hát Xẩm Hà Nội hoặc tham gia nhóm cộng đồng của chúng tôi.
