Qua số bài ghi chép thu nhập được, thấy hát xẩm ở mấy tỉnh phía Bắc thường vận dụng 8 điệu, trong đó 2 điệu “anh em sinh đôi’ với hát hề của Chèo và trò nhà Phật. Đó là Xẩm chợ, Chênh bong, Riềm huê, Ba bực, Phồn huê, Hò bốn mùa, Hát ai và Thập ân.

Điệu Xẩm chợ giản dị, ngắn gọn, giai điệu dựa theo thanh điệu và dấu chữ của loại thơ sáu/ tám với tiếng đệm, rất đậm tính chất hát nói kể lể nghe đơn điệu, hơi rầu, dễ hát dễ đàn, vợ con đều có thể cùng nghệ nhân (chồng, cha) hát đồng thanh mà cảm giác gắn bó cấu kết là do chất giọng mỗi cá nhân tạo thành.
Điệu Chênh bong rất được nghệ nhân ưa dùng, nghe vui vẻ phấn khích. Điệu Xẩm xoan thường hát trên Đài Tiếng nói Việt Nam có những nét cơ bản giống điệu này, song đa số nghệ nhân xẩm không nhận là vốn nhà. Chênh bong mở đầu bằng một khúc nhạc dạo, đã có đảo câu để tạo vế, có xuyên tâm, có lưu không kết trổ… Tùy độ dài ngắn của nội dung, bài hát có thể gồm 3 hoặc 4, có khi 5 hoặc 6 trổ; lại tuy ý tứ trong cấu, mỗi trổ có thể gồm một hai cặp sáu/ tám. Trổ 1 thường gồm một cặp sáu/tám và thêm câu sáu; trổ kết thường gồm trọn một hoặc hai câu sáu/tám. Đôi khi bài hát hết bằng một câu sáu lửng lơ. Các trổ giữa thường hát nhắc lại câu sáu vừa dứt ở khổ trên. Kiểu kết cấu này thật gần gũi với cung cách tạo dựng các điệu hát chèo, được nghệ nhân vận dụng linh hoạt, nên thường khêu gợi trong khách xem ý muốn nghe tiếp ngay trổ sau, cùng với cảm giác chưa trọn vẹn. Đừng quên, số lớn nếu không nói hầu hết giai điệu của loại nhạc hát nói kể chuyện khi chấm dứt đều không có ý gây hiệu quả thành toàn, mà thường là gợi cảm giác chưa hết, còn tiếp tục.
Điệu Riềm huê thường lồng vào hát với những nội dung trao tình, hò hẹn, nhớ thương trông ngóng, nghe thắm thiết, da diết. Cũng bắt đầu bằng câu nhạc dạo rồi vào hát, với cách câu trúc các trổ, các vế, cách đặt xuyên tâm lưu không, cách đảo câu không mấy khác điệu Chênh bong, nhưng Riềm huê dựa vào nội dung thể hiện, vào ý văn và từ ngữ, đã vận dụng nhịp nội nhịp ngoại và tiếng trống cơm bập-binh-bình-binh mà tạo sắc thái riêng đậm đà với số nét giai điệu không thể lẫn với điệu hát nào.
Điều Ba bực thì duyên dáng đong đưa, hay lồng vào những nội dung yêu thương tha thiết. Điệu này nhập vào sinh hoạt hát ả đào mà mang tiêu đề xẩm nhà trò. Khác nhau chút ít là xẩm nhà trò tước bỏ xuyên tâm lưu không và thay lời vào những từ lặp lại, đưa hơi, làm cho bài hát cô gọn liền giọng hợp với loại nhạc thính phòng hơn; lại do đào hát thong thả, nhấn chữ, nhấn ý, có đàn đáy, đàn nguyệt, sênh phách phụ họa, nên gây được hiệu quả ấm cúng trữ tình hơn. Không thể đặt vấn đề xẩm “học mót” bên ca trù điệu hát này, bởi ngay tên điệu hát, giới nhà trò vẫn phải gọi là một điệu của xẩm: xẩm nhà trò.
Điệu Phồn huê kể ràu nghe thương thảm về nhiều nỗi cực nhục khổ đau của chị em trong xã hội cũ bằng cả một bài dài, gồm 10 trổ theo kiểu tự bạch tâm trạng qua những quan hệ mẹ chồng nàng dâu, vợ chồng không hợp…. Bà Hai Thìn lại gọi là điệu “Nữ oán”. Cung cách kết cấu giai điệu cũng theo dạng âm nhạc hát nói quen thuộc, song trình bày chậm buồn, lưu không kéo dài. Điệu này không thấy nghệ nhân hát xé lẻ mà thường chỉ hát lồng chen đôi trổ vào những truyện xẩm dài, mỗi khi gặp tình tiết có nội dung tương tự. Ông Trùm Nguyên còn nhớ, bài Phồn huê xuất hiện đầu tiên ở Hội xẩm Hà Nội vào mấy năm cuối cuộc Đại chiến thứ nhất, cùng thời với những bài Anh Khoá ơi, Ai ơi chớ vội,… khi ông đang tuổi đôi mươi.
Điệu Hò bốn mùa nằm ở dạng hát nói thô sơ, mang tính kể lể, chuyên dùng về công việc làm ăn trong năm của nhà nông, mà cứ sau một cặp sáu/tám lại đi vào điệp khúc ồn ào nhộn nhịp, có hơi hướng “láy” theo bên hát Trống quân:
Dân làng rằng là dân làng ơi,
Vui vẻ ai ơi tưng bừng!
Điệu hát Ai với tính chất than thở oán trách pha chút hài hước nghe rõ là chịu ảnh hưởng đậm đặc cả lời hát và giai điệu cùng cách kết cấu của điệu Hề mồi trong chèo. Khác chăng do mức độ thể hiện và yêu cầu hiệu quả ở những điều kiện nghệ nhân và khách nghe không giống nhau. Xẩm vận dụng hát Ai vào những đoạn có nội dung thương cảm, buồn rầu ở số bài dài hoặc truyện dài.
Điệu Thập ân vừa buồn sầu vừa khêu gợi, cả nội dung và hơi kể nghe không mấy khác nội dung và nét nhạc của Oán thập điều, thường gọi là chèo Thập ân, hay dùng trong hát chèo hoặc trong các đám tang ma giỗ chạp. Loại bài này nêu lên những nỗi khổ cực của cha mẹ nuôi dạy con cái từ lúc mang thai đến lúc sinh con nuôi con lớn lên thành người, nhằm nhắc nhở con cháu hãy nhớ đến công ơn người vừa khuất mà ăn ở hiếu đễ sao cho phải đạo.
Chúng tôi còn ghi được điệu Xâm Huế ở một người mù hát dạo bên cạnh chợ Đông Ba (năm 1976) thấy dường như không chịu ảnh hưởng gì của hệ thống hát xẩm nêu trên: không có đảo câu mà thành hình vế trống vế mái, không thành trổ, không có xuyên tâm nhưng có nhạc thòng. Giai điệu Xẩm Huế cũng ở dạng hát nói dựa theo ngữ điệu tiếng nói vùng Trị Thiên…
Tác giả: Trần Việt Ngữ
Phần 1 | Phần 2 | Phần 3 | Phần 4 | Phần 5 | Phần 6 | Phần 7 | Phần 8
Nếu bạn là người yêu văn hóa dân gian đặc biệt là nghệ thuật hát Xẩm, hãy Liên hệ để tham gia CLB Nghệ thuật hát Xẩm Hà Nội hoặc tham gia nhóm cộng đồng của chúng tôi.
